Có nhiều “mô hình” và “công thức” để một doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp gia đình (DNGĐ). Nhưng công thức gốc có phần bảo thủ nhất là dựa trên huyết thống và quyền sở hữu song hành quyết định mô hình doanh nghiệp thuộc gia đình (family-owned firm/FOB). Hầu hết những mô hình DNGĐ này chỉ do 1 cá nhân/hay nhóm người gia đình sở hữu chi phối toàn diện công ty. Cũng chính mô hình này đã hình thành nên khái niệm “nguồn vốn huyết thống” do thế hệ cha mẹ kiến tạo và con cái cùng huyết thống thừa kế. Nguồn vốn huyết thống vừa là tài sản, vừa là quyền lực được truyền sang thế hệ sau đảm bảo sở hữu và chi phối của gia đình.
Trong học thuật, rất nhiều nghiên cứu định nghĩa mô hình DNGĐ theo quyền sở hữu và truyền đời gia nghiệp dựa trên tinh thần gốc là nguồn vốn huyết thống (Litz, 1995; Sharma, Chrisman & Chua, 1996; Tagiuri & Davis, 1996; Villalonga & Amit, 2006). Dần dần, các nghiên cứu mở rộng đặc điểm này bằng cách bổ sung những đặc điểm soi rõ hơn vào khái niệm gốc như: Ý định truyền đời, định hướng duy trì quyền kiểm soát, hậu duệ sở hữu cổ phần chi phối, ảnh hưởng tỷ trọng quyền biểu quyết, hiện diện trong hội đồng quản trị, gia tăng quyền thông qua sở hữu liên kết…Cho dù các nghiên cứu tiến xa đến đâu, vấn đề cốt lõi của công thức vẫn là sở hữu và truyền đời – mặc dù có phần bảo thủ.
Thách thức lớn nhất là nhận dạng trạng thái sở hữu (owned) hay kiểm soát (controlled) trong mô hình. Theo các nghiên cứu, phần lớn công ty chưa niêm yết và đã truyền đời sang thế hệ thứ 2 đều là sở hữu. Nghĩa là thành viên gia đình cùng huyết thống sẽ chiếm trên 50% cổ phần cùng với quyền chi phối. Tất nhiên thành viên gia đình sẽ là chủ chốt trong điều hành kèm theo giữ chức danh quyền lực quyết định. Đối với công ty chỉ mang tính chất chi phối, thành viên gia đình cùng huyết thống chiếm 20 -30% cổ phần, có thể công ty đã niêm yết. Nhưng với mô hình này. DNGĐ sẽ tổ chức công ty Holding (công ty mẹ/tập đoàn) để chi phối quản trị và đầu tư. Mô hình chi phối thường ở thế hệ thứ 3 và tư duy “huyết thống” đã thay đổi mạnh mẽ sang “hiệu quả kinh doanh”.
Huyết thống và quyền sở hữu chỉ là bước đầu để hình thành nên 1 công ty gia đình. Qua thời gian, hai nền tảng này phải có sự tiến hóa đến tăng trưởng. Giống như “một cây cổ thụ có rễ sâu từ huyết thống, nhưng nếu không chịu mọc thêm cành nhánh mới, nó sẽ bị rừng già bỏ lại phía sau”. Khi quy luật “đời Ông/bà (super star) sáng lập đến đời con duy trì và đời cháu suy yếu” được nhắc đến nhiều trong DNGĐ, là lúc cần phải xem “mô hình huyết thống và sở hữu có thể làm doanh nghiệp sống sót qua bão tố, nhưng để bay cao, họ cần học cách mở đôi cánh ra ngoài gia đình.”
Nguồn: TS. Huỳnh Phước Nghĩa







